Nhạc sĩ Trần Kim Ngọc chia sẻ về chất liệu truyền thống...

Nhạc sĩ Trần Kim Ngọc chia sẻ về chất liệu truyền thống trong âm nhạc đương đại

Đăng vào
0

Viết bởi Nguyễn Đức Tùng cho Hanoi Grapevine
Không sao chép hoặc đăng tải nếu không có sự đồng ý của tác giả và Hanoi Grapevine

Trong bối cảnh ngày một phát triển của văn hóa nghệ thuật tại Việt Nam, rất nhiều nghệ sĩ đã dũng cảm thể hiện cái tôi với những thể loại âm nhạc mới. Thế nhưng làm sao để gìn giữ hay kế thừa nét đẹp của những làn điệu âm nhạc truyền thống như tuồng, chèo,…vào những sáng tác đương đại? Tại cuộc trò chuyện “Ký ức của tế bào” thuộc khuôn khổ dự án “Tương lai của Truyền thống”, nhạc sĩ Trần Kim Ngọc đã có buổi chia sẻ bổ ích với những khán giả yêu nghệ thuật về sự lựa chọn con đường âm nhạc của chị. Sự kiện được điều phối bởi nhạc sĩ Nguyễn Xuân Sơn (Sơn X).

Nhạc sĩ Sơn X (trái) và nhạc sĩ Trần Kim Ngọc (phải) (hình ảnh từ dự án Tương lai của Truyền thống)

Nhạc sĩ Sơn X: Kim Ngọc có lẽ là một trong số hiếm hoi những nữ nhạc sĩ của âm nhạc cổ điển Việt Nam mà được học bài bản về sáng tác?

Nhạc sĩ Kim Ngọc: Ở Việt Nam thì cái hệ thống giáo dục chính thống là âm nhạc cổ điển. Mình sinh ra trong một gia đình âm nhạc và được học nhạc từ nhỏ. Sáu tuổi đã bắt đầu vào Nhạc viện Hà Nội, bây giờ là Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam. Học piano 7 năm Sơ cấp, 4 năm Trung cấp, sau đó là 4 năm cấp Đại học thì mình học sang khoa sáng tác. Tổng cộng là 15 năm học nhạc cổ điển Châu Âu. Đây là hệ thống giáo dục chuyên nghiệp tại Việt Nam trong thời điểm đó. Để vào được khoa sáng tác, mỗi học viên đều phải học một nhạc cụ thật chuyên sâu trong vòng 11 năm. Thời điểm mình thi vào khoa sáng tác thì mình là sinh viên nữ duy nhất. Mọi người toàn đùa là hoa hậu. Học tới gần năm cuối Đại học thì mới có thêm một bạn nữa chuyển từ trường Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội là bạn Giáng Son.

Nhạc sĩ Sơn X: Trước khi sáng tác nhạc đương đại, Ngọc cũng sáng tác nhiều ca khúc nhạc pop đúng không?

Nhạc sĩ Kim Ngọc: Nếu những ai biết mình từ ngày xưa thì chắc cũng biết tới những ca khúc của mình. Năm 14 tuổi mình có tác phẩm đầu tay nhưng không phải là ca khúc. Tới những năm 16, 17 tuổi, khoảng đầu những năm 90, tại Việt Nam có những trào lưu nhạc nhẹ ví dụ như Modern Talking, Joy hay Guns n’ Roses. Rồi các nghệ sĩ amateur họ đi lao động xuất khẩu ở Đông Âu về cũng thành lập những band nhạc đầu tiên và dần trở nên chuyên nghiệp trong lĩnh vực ấy. Rất nhiều trong số đó cũng vào Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam để học sáng tác. Vậy nên khung cảnh sinh hoạt trong trường nhạc lúc bấy giờ cũng thể hiện rất rõ những gì đang diễn ra bên ngoài. Từ lúc ấy mình đã thử sáng tác những ca khúc pop đầu tiên một cách rất có ý thức. Mình không hứng lên thì viết mà có nghe và tìm hiểu. Cho đến thời điểm viết ca khúc cuối cùng là bài “Chỉ là giấc mơ” thì mình đã viết khoảng 20 bài, trải dài trong khoảng 7 năm.

Nhạc sĩ Sơn X: Viết nhạc pop vừa dễ nổi tiếng vừa kiếm được nhiều tiền thì tội gì mà không viết tiếp?

Nhạc sĩ Kim Ngọc: Anh Sơn nói rất đúng. Thời điểm ấy mình cũng toàn chơi với những diva bây giờ. Tất cả những người bạn thân nhất hồi ấy đều đã để lại những dấu ấn trong giới nhạc nhẹ Việt Nam hiện nay như Mỹ Linh, Thu Hà. Con đường ấy đi dễ dàng hơn rất nhiều, vừa có thu nhập vừa có điều kiện làm việc liên tục. Còn mình thì mình nghĩ là do từ ngày xưa mình đã không giống ai. Đối với mình việc được thừa nhận hay kiếm được nhiều tiền không quan trọng. Sáng tác nhạc cũng chỉ là một cách đã được mình thử nghiệm ở tuổi dậy thì để khám phá bản thân. Ngoài ra mình cũng có làm thơ và viết truyện ngắn. Sáng tạo đối với mình là một cách để giải phóng năng lượng tinh thần.

Có thêm một lý do nữa mà mình không theo đuổi nhạc pop đó là nhạc đương đại thỏa mãn mình hơn, cho mình công cụ đắc lực hơn để mình biểu đạt những thứ phức tạp hơn. Đến một lúc các ca khúc trở nên quá đơn giản, trong khi suy nghĩ của mình thì lớn lên nên mình đã chọn không tiếp tục khám phá nó nữa. Cùng thời điểm mà nhạc pop và các chương trình như MTV tràn vào Việt Nam thì đồng thời nhạc đương đại đã đến theo những giáo sư, các nghệ sĩ tự do từ các nước Tây Âu. Qua các buổi học và các buổi giao lưu, mình được tiếp xúc với những tổng phổ âm nhạc đương đại của thế kỷ 20 và được biết tới phần còn lại của âm nhạc cổ điển. Phần còn lại ấy khác hoàn toàn so với những gì mình đã được học. Trước thời Mở Cửa, Việt Nam hoàn toàn “nhập khẩu” hệ thống giáo dục của Đông Âu như Liên Xô, Ba Lan, Bungari,…Đông Âu bảo thủ bao nhiêu, Tây Âu tự do bấy nhiêu. Nhạc cổ điển đã có một chuẩn mực về cái đẹp của Châu Âu, vậy nên dù học nhạc từ nhỏ nhưng mình vẫn thấy có gì đó xa lạ. Khi mình muốn kể câu chuyện về con người ở đây, thổ nhưỡng ở đây thì những giai điệu cổ điển không còn phù hợp nữa. Giống như mình mặc quần áo của người khác ấy. Trong khi đó với nhạc đương đại lại cho phép mình được quyền tạo ra những thứ thậm chí chưa từng tồn tại trước đây để có thể thoải mái thể hiện cá tính riêng.

Trong buổi hội đàm, nhạc sĩ Kim Ngọc cũng chia sẻ về các tác phẩm nhạc đương đại đã thực hiện. Về tác phẩm “Bài ca đứa bé lang thang”: “Theo kế hoạch thì đó là tác phẩm tốt nghiệp của mình tại Học viện m nhạc Quốc Gia Việt Nam nhưng không thầy nào đồng ý cả. Thậm chí mình đã xin được tiền tài trợ rồi. Đây là hình thức biểu diễn chưa từng có tiền lệ trong chương trình đào tạo của khoa sáng tác. Mình phải sáng tác một bản giao hưởng hai quản đúng tiêu chuẩn mang tên “Cái eo lưng” nhưng cũng không được duyệt để tốt nghiệp. Sau này mình đã chọn Nhà Sàn studio – một trung tâm nghệ thuật thể nghiệm của anh Nguyễn Mạnh Đức là địa điểm biểu diễn của “Bài ca đứa bé lang thang”. Sau nhiều tháng lên ý tưởng, mình che toàn bộ tầng 1 của Nhà Sàn bằng một loại giấy màu vàng. Trang phục cũng được thiết kế dành riêng cho vở diễn. Mình không viết ra nốt nhạc để đưa cho các nhạc công như âm nhạc cổ điển. Đây là một tác phẩm thể nghiệm về mọi mặt, kể cả đối với chính bản thân mình. Mình chỉ đi theo trực giác thôi, mong muốn tác phẩm phải có yếu tố tác động thị giác. Và dần dần ý tưởng này lại dẫn đến ý tưởng kia. Các nốt nhạc làm nảy ra ý tưởng hình ảnh, rồi các chuyển động của nghệ sĩ như tiếng giày vải cọ lên lớp giấy phủ lại tạo cảm hứng cho âm nhạc. Mình sáng tạo mọi thứ một lúc. Phong cách làm nhạc này vẫn theo mình đến tận bây giờ.”

Tác phẩm có sự tham gia của 7 diễn viên đều là những học sinh khoa tuồng, chèo ở độ tuổi từ 12 đến 19. Đây cũng là thời điểm nhạc sĩ Kim Ngọc bắt đầu dành sự quan tâm tới âm nhạc truyền thống Việt Nam. Mặc dù “gặp gỡ” với loại hình âm nhạc này khi đã khá muộn màng vào thời điểm những năm cuối đại học, Kim Ngọc vẫn cảm thấy nhạc dân gian như một người bạn vừa lạ vừa quen, cũng giống như một “em bé lang thang” mà chị vẫn tìm kiếm. Chị cũng chia sẻ: “Khi mình bắt đầu chơi đàn tranh, mình tìm hiểu thêm về âm nhạc truyền thống và sử dụng nó như một thành tố trong các sáng tác của mình”.

Nhạc sĩ Sơn X: Trước đó ở Việt Nam chưa có nhiều hình thức biểu diễn thế này. Ngọc đã lấy cảm hứng và ý tưởng từ đâu?

Nhạc sĩ Kim Ngọc: Thời điểm ấy mình đã đọc cuốn “Hoàng tử bé” và rất thích. Nhưng đó chỉ là bước đầu. “Bài ca đứa bé lang thang” chủ yếu thể hiện giai đoạn hậu dậy thì, giai đoạn ai cũng có cảm giác như mình đã tìm thấy cái tôi. Cái tôi là một thứ mình nghĩ ai cũng có, giống như một đứa bé lang thang ở trong mỗi người. Có khi chúng ta nghĩ mình lạc mất nó, nhưng thực chất nó vẫn ở đây. Toàn bộ nhận thức này mình lấy từ đời sống chứ không phải đọc trong sách. Chính vì vậy mình có một thôi thúc rất mạnh mẽ làm sao để có thể đối thoại với đứa bé ấy của chính mình.

Về hình thức thể hiện, nhạc sĩ Kim Ngọc chia sẻ ngay từ khi còn là sinh viên chị đã luôn có tư duy kết hợp âm nhạc với hiệu ứng thị giác trên sân khấu. Chị muốn những nhạc công của mình có thể đổi vị trí ngồi, thậm chí thay đổi phục trang quy chuẩn của dàn nhạc giao hưởng để phù hợp với từng tác phẩm. Điển hình như trong tác phẩm giao hưởng “Đám ma tiễn Chúa”, nhạc sĩ Kim Ngọc đã lên ý tưởng để gần 50 nhạc công mặc những chiếc áo vải xô thường thấy trong các đám ma tại Việt Nam. Đây có thể coi là “thành quả phát triển” của những ký ức đã ăn sâu vào tế bào chị từ thuở bé khi thường xuyên cùng cha là cố nhạc sĩ Trần Ngọc Xương đi xem những buổi kịch nói.

Một tác phẩm nhạc đương đại khác của nhạc sĩ Kim Ngọc mang nặng âm hưởng truyền thống Việt Nam là “The Absence” (tạm dịch: Sự vắng mặt). Chị đã sáng tác một phần khi còn theo học ở Đức và hoàn thành vào năm 2006, sau khi đã trở về Việt Nam một năm. “The Absence” được làm theo đơn đặt hàng của Lễ hội âm nhạc Muenchener Biennale. Đây là liên hoan lớn nhất trên thế giới của thể loại âm nhạc music theater – một hình thức âm nhạc kết hợp hiệu ứng thị giác của sân khấu. Suốt một tháng ròng nhìn ngắm những bức tượng của những hoàng đế La Mã bên trong bảo tàng Glyptothek, nhạc sĩ Kim Ngọc luôn cảm thấy chúng có gì đó thật trống vắng. Chính điều này đã gợi ý cho chị thực hiện tác phẩm “The Absence” gợi tả những điều trống vắng của bản thân. Có tới bốn trong tổng số năm nhân vật xuất hiện trong tác phẩm gắn với hình ảnh Việt Nam.

Nhạc sĩ Kim Ngọc chia sẻ về tác phẩm: “Nhân vật đầu tiên là Gió Nồm. Gió Nồm được viết vào năm đầu tiên khi mình sang Đức. Điên đảo vì nhớ nhà. Mình viết về thứ mình đã bỏ lại khi chuyển từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác để sinh sống. Ở nhà thì mình ghét cay ghét đắng những ngày trời nồm, tường với trần nhà chảy nước. Mình ghét kinh khủng. Nhưng đến khi mình sang Đức thì đó lại là thứ mình nhớ nhất. Cảm giác dinh dính, nhớp nhớp trên làn da những ngày trời nồm cũng làm mình liên tưởng tới sự ràng buộc, lệ thuộc trong tình yêu. Nhân vật thứ hai là Truyền Thống. Đối với mình, trong văn hóa hiện đại Việt Nam, truyền thống đã bị vắng mặt. Chính mình đã diễn vai này. Mình cạo đầu trọc, mặc bộ váy và yếm, trình diễn giọng hát từ chất liệu truyền thống kết hợp với máy tính. Đối với mình toàn bộ hình ảnh của nhân vật ấy phản ánh suy nghĩ của mình về truyền thống. Nhân vật thứ ba là Nhân Chứng. Thực chất đây là một băng âm thanh. Trong thời gian ở Việt Nam, mình đã đi thu những âm thanh của đường phố Hà Nội rồi về chỉnh sửa chúng. Đây là hình thức sound tape đã được nhiều nghệ sĩ sử dụng. Mình gọi đây là Nhân Chứng vì nó chứng kiến những gì đang đổi thay, những gì đang diễn ra ở trong xã hội Việt Nam. Nhân vật thứ tư là một nhân vật trong Hồ Thiên Nga nhưng do một bạn nam cùng lớp mình thủ vai. Mình nhận thấy trong bối cảnh nhạc đương đại Châu u, chất liệu âm nhạc cổ điển cũng đang vắng mặt ở thời điểm ấy. Nghệ thuật cổ điển đã trở thành quá khứ rồi, nhưng nó vẫn ở đấy theo những dạng khác nhau. Đối với mình đó là một thứ đã bị đảo ngược về giá trị, có gì đó hài hước trong đấy. Nhân vật cuối cùng, mình đã mời một nhà sư thực sự từ Việt Nam sang tham gia biểu diễn. Ngài ngồi tụng kinh và cầu nguyện ở vị trí đã sắp đặt trước. Hồi ấy mình chưa am hiểu quá thâm sâu về Phật pháp, nhưng nhân vật này có sự liên kết rất mạnh với ý tưởng chung về sự trống vắng.”

Ngoài ra, nhạc sĩ Kim Ngọc cũng chia sẻ về các tác phẩm khác như “Ai đem con nhện giăng mùng” hay “Hồ Nguyệt Cô hóa cáo”. Chất liệu âm nhạc truyền thống đối với chị tuy là cuộc gặp gỡ muộn màng sau rất nhiều năm theo học nhạc cổ điển nhưng lại đánh thức những phần ký ức đã ăn sâu vào từng tế bào và luôn theo chị trong từng sáng tác. Nghe chị kể chuyện hay tới dự những buổi diễn của Kim Ngọc, khán giả sẽ như được tiếp thêm cảm hứng và tình yêu dành cho văn hóa nghệ thuật của chính đất nước mình.

NO COMMENTS

Leave a Reply