Hòa nhạc thể nghiệm “Biên giới mờ”: Chuyến phiêu lưu trong những...

Hòa nhạc thể nghiệm “Biên giới mờ”: Chuyến phiêu lưu trong những trường-tương-tác-âm-thanh-thị-giác

Đăng vào
0

Út Quyên viết cho Hanoi Grapevine, Ảnh: Lương Hữu Hải
Vui lòng ghi rõ nguồn Hanoi Grapevine khi chia sẻ bài
Không sao chép từng phần hoặc nguyên văn khi chưa có sự cho phép

Trong buổi hòa nhạc “Biên giới mờ” diễn ra tại hội trường L’Espace đêm 06.7, 10 nghệ sĩ trẻ đến từ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cùng nghệ sĩ khách mời người Pháp Jean-David Caillouët đã mang đến cho khán giả yêu nhạc thể nghiệm Hà Nội một đêm nhạc đầy cảm xúc bằng sự kết hợp tuyệt vời giữa các phong cách, thể loại và chất liệu âm nhạc tưởng như vô cùng khác biệt.

Các nghệ sĩ tham gia từ trái qua phải:
Hàng 1: Tuấn Nị, Nguyễn Thanh Huyền, Nguyễn Thùy Chi
Hàng 2: Hà Thúy Hằng, Nguyễn Hồng Giang, Lương Huệ Trinh, Hương DonNa, Duy Rùa, Jean-David Caillouët

Đêm diễn bắt đầu bằng Outngh – một tác phẩm kết hợp giữa âm thanh điện tử và hình ảnh của Nguyễn Hồng Giang, những tiếng piano êm ái, du dương mang đậm phong cách cổ điển ở phần mở đầu nhanh chóng bị bóp méo, vỡ vụn rồi chìm lấp trong những âm thanh ồn ào của Noise. Càng về sau, nhịp độ, cường độ và mức độ hỗn tạp của âm thanh càng được đẩy mạnh. Các chuyển đổi-chuỗi-nhiễu loạn về thị giác trên màn hình tương ứng với nhịp đập và các cách chồng lớp âm thanh của Noise như hút người xem vào không gian của tác phẩm. Là tiết mục độc tấu duy nhất trong đêm diễn, màn trình diễn của Giang mang một màu sắc hoàn toàn riêng biệt so với các tác phẩm còn lại. Tác phẩm tạo tiền đề đưa khán giả chuyển dịch tâm trí từ một vùng thực tại vào một cơn mộng mị nơi mọi tín hiệu về thính giác và thị giác quen thuộc của đời thường ngày càng trở nên lạ lẫm, chắp nối phi tuyến tính.

Tác phẩm tiếp theo, Sự trùng hợp không tên của Jean-David Caillouët, là một bản ‘collage’ đúng nghĩa bằng âm nhạc và hình ảnh thị giác. Việc sử dụng hình ảnh về Việt Nam từ những bộ phim nổi tiếng như Hà Nội, thứ ba ngày 13 (Hanoi, Martes 13) (1968), Cánh đồng hoang (1979), phim hoạt hình Chuyện Ông Gióng (1970), và những hình ảnh tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống cùng với âm thanh từ sáo, đàn bầu và đàn tranh gợi cho toàn bộ tác phẩm một không khí đậm chất hoài cổ. Ít ai biết rằng khi sáng tác tác phẩm này, Jean-David hầu như không mấy quen thuộc với văn hóa và các nhạc cụ truyền thống Việt Nam. Sự phát triển của tác phẩm, đúng như cái tên “Sự trùng hợp không tên”, dựa phần lớn vào sự phát triển cảm xúc và tương tác của các nhạc sĩ với phần hình ảnh thị giác. Tuy nhiên, việc sử dụng quá đậm đặc chất liệu hình ảnh Việt Nam ở đoạn sau tác phẩm khiến cho phần thị giác trở nên dài dòng và có phần hiển ngôn. Phần lời đọc trích dẫn từ cuốn sách “The Order of time” của nhà vật lý học Ý Carlo Rovelli kết hợp với những suy tư của tác giả phù hợp không ngờ với chất liệu hình ảnh và âm nhạc mang đậm không khí Việt Nam. Âm lượng phần đọc đôi chỗ quá rõ ràng và bật ra khỏi phần nhạc, làm giảm đi cảm giác mơ màng mà tác phẩm mang lại.

Tương phản với vẻ đẹp duy mỹ trong Sự trùng hợp không tên của Jean-David Caillouët, Tìm của Hương DonNa thách thức người nghe bởi những âm thanh nghịch tai nhưng không kém phần thú vị. Người xem sẽ được chứng kiến bản hòa âm của những âm thanh lạ lẫm đến từ cây violin của Tuấn Nị và các vật dụng của Hương. Những tiếng rít thô ráp từ cây violin dẫn dắt cho những tiếng vocal kỳ lạ, không rõ nghĩa mở đầu tác phẩm. Cả tác phẩm dường như là một cuộc đối thoại không dễ dàng nhằm tìm ra tiếng nói chung giữa những cá tính hết sức riêng biệt vì thế có lúc nó có vẻ hòa hoãn, có lúc mỗi một âm thanh lại cố gắng lấn lướt thành tố khác để độc tấu riêng.

Tác phẩm Sống, sáng tác bởi Duy Rùa, Hương DonNa, Thanh Huyền, Tuấn Nị có cấu tứ khá rõ ràng. Đó là câu chuyện của những người trẻ tuổi, muốn trốn thoát khỏi cuộc sống bức bối thường nhật để tìm đến những khung cảnh yên bình cho riêng mình. Bằng việc khai thác âm thanh phong phú từ các nhạc cụ đàn tranh (Thanh Huyền), đàn bầu (Thùy Chi), sáo và đàn môi (Duy Rùa), Violin (Tuấn Nị) và object (Hương DonNa) các nghệ sĩ đã thành công khi lần lượt dẫn dắt tâm trí người nghe vào một chuyến du hành qua rất nhiều khung cảnh khác nhau từ đô thị ồn ào, náo nhiệt tới làng quê yên tĩnh, chốn chùa chiền thanh bình và những miền núi cao tự do khoáng đạt. Tuy nhiên sự chuyển giao giữa phần đầu tác phẩm của những âm thanh ồn ào, hỗn tạp sang phần thứ hai với những âm thanh gợi lên không khí làng quê, hoang dã có vẻ hơi gấp gáp. Người xem chưa kịp cảm nhận để hiểu mình đang ở đâu trong câu chuyện thì đã bị đột ngột ném sang một vùng âm thanh khác.

Đêm diễn lên đến cao trào ở tác phẩm thứ 5: Có bao nhiêu bầu trời và biển cả sẽ biến mất biên soạn bởi Lương Huệ Trinh. Tất cả các yếu tố âm thanh, ánh sáng và hình ảnh đều được nghệ sĩ khai thác một cách tinh tế. Tác phẩm mở đầu bằng lời đọc chìm trong bóng tối, mặc dù thì thầm nhưng dường như có thể để lại tiếng vọng trong lòng người nghe. Hình ảnh sử dụng các ký tự trôi nổi, lúc thì rõ ràng khi thì biến dạng kết hợp với nền ảnh động gây ảo giác cùng các hiệu ứng ánh sáng tối giản như kéo khán giả vào không gian mơ hồ của tiềm thức. Tiếng sáo của Duy Rùa lúc thì trong trẻo, cao vút, thoát tục, lúc lại như bị lẫn vào trong nền tiết tấu chậm rãi, trầm đục duy trì suốt toàn bộ bản nhạc tạo ra cảm giác bức bối như một thứ gì đó muốn thoát ra nhưng lại bị kìm hãm nhấn chìm; tiếng đàn tranh Hà Thúy Hằng có lúc mượt mà, êm ái, lúc lại cất lên ma quái, huyền hoặc; âm thanh thâm trầm mà mạnh mẽ của tiếng đàn đáy kết hợp với phần lời đọc thì thầm và tiếng hát ca trù qua xử lý lúc xa lúc gần, lúc trầm lúc bổng; tất cả góp phần tạo ra một vẻ đẹp đậm chất khải huyền, sử thi bao trùm lên tác phẩm.

Chương trình khép lại bằng màn trình diễn ngẫu hứng Đan xen, kết hợp giữa hình ảnh, âm thanh điện tử với đàn tranh, đàn nguyệt. Tác phẩm mở đầu khá hấp dẫn bằng những âm thanh cao, gấp gáp của đàn tranh kết hợp với tiếng rít kéo dài của nhạc điện tử, những đoạn drift tự do trên đàn nguyệt được tạo ra bằng ma sát với dây vĩ tương tác với một giọng vocal trầm được xử lý ma mị. Nhịp điệu chậm rãi, trầm thấp của những âm thanh điện tử làm nền cho những tiếng rít chói tai của đàn nguyệt cùng sự xuất hiện ngắt quãng của đàn tranh kéo dài suốt hơn 10 phút sẽ dễ khiến người nghe cảm thấy mất kiên nhẫn nếu như không có phần hình ảnh được lắp ghép ngẫu nhiên trùng khớp với nhịp điệu âm thanh tạo ra những liên tưởng đa chiều thú vị cho khán giả. Tuy nhiên, sự xuất hiện của những hình ảnh quá cụ thể và mang tính tự sự không mấy ăn khớp với những hình ảnh mang tính trừu tượng hoặc tối giản xuyên suốt phần lớn tác phẩm có đôi chút gây khó chịu. Phần cuối tác phẩm cũng gây bối rối cho người xem khi lẽ ra có thể kết thúc sau cao trào của màn hòa tấu giữa các âm thanh điện tử của kèn hơi và dàn trống ở phút thứ 13 thì tác phẩm lại quay trở lại với nhịp điệu chậm rãi và kéo dài thêm 2 phút nữa.

Sáu tác phẩm trình diễn trong Biên giới mờ đã đưa người xem đi qua rất nhiều ngạc nhiên trong việc khai thác những âm thanh mới lạ từ nhạc cụ truyền thống và sự tương tác, kết hợp khác nhau: giữa nhạc điện tử với acoustic; giữa nhạc cụ Tây phương, với các nhạc cụ truyền thống Việt Nam; nhạc cổ điển kết hợp với Noise; những tiếng hát ca trù được nâng đỡ bởi tiếng va đập kim loại lên cymbal, những tiếng rít lạ lùng trên phím đàn violin hòa quyện cùng những âm thanh tạo bởi object (đồ vật). Cuộc truy tìm chất liệu âm thanh của các nghệ sĩ có lúc đơn độc như trong Outngh, có lúc đầy tiếc nuối và hoài niệm như trong Sự trùng hợp không tên, gay gắt như trong Tìm, tươi vui như trong Sống, huyền bí và cổ xưa như trong Có bao nhiêu bầu trời và biển cả sẽ biến mất  và mơ hồ và hỗn loạn như trong Đan xen đã tạo nên một đêm diễn nhiều sắc màu và để lại những cảm xúc khó phai trong lòng khán giả.

NO COMMENTS

Leave a Reply